Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người

Bài viết Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người thuộc chủ đề về Giải Đáp Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng NaciHolidays.vn tìm hiểu Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người trong bài viết hôm nay nha !

XEM THÊM

Video về Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người

Các bạn đang xem chủ đề về : “Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người”

Mặc khải là gì ?( Revelatio, revelation)

*

Mặc khải là Thiên Chúa tỏ bày mầu nhiệm của Người cho nhân loại qua trung gian loài người như ông Môsê, ông Êlia, đặc biệt là qua Chúa Giê-su. Đến lượt mình, Chúa Giêsu lại tỏ cho những Tông Đồ biết mọi bí nhiệm, ý định của Thiên Chúa“.

Bài Viết: Mặc khải là gì

Ở đây, vấn đề công ty chúng tôi muốn thăm dò là vì trong tiếng Việt, ngoài thuật từ “mặc khải” còn tồn tại “mạc khải” (cả hai đều dịch từ chữ La Tinh là revelatio, có nền tảng từ chữ Hy Lạp là apocalypsis) để diễn đạt việc “Thiên Chúa tỏ bày mầu nhiệm của Người cho nhân loại”.

1. Nguyên ngữ apocalypsis, revelatio.

XEM THÊM

Mặc khải hay mạc khải dịch từ chữ La Tinh là revelatio, gốc từ chữ Hy Lạp là apocalypsis.

1.1. Apocalypsis, có tiếp đầu ngữ apo- nghĩa là phương pháp, tách biệt, khỏi (off, from, away); calypsis có nghĩa là che, phủ (cover). Như thế, apocalypsis nguyên nghĩa là vén màn che lên (lifting of the veil), tức là tỏ ra cho biết, cho cảm nhận.

1.2. Revelatio :Danh từ velum trong La ngữ có nghĩa là: Mạng che mặt, khăn trùm hay tấm màn (trước thế kỷ XIII: Pháp: voile; Anh: veil). Từ đó có động từ velare nghĩa là: bao phủ, che đậy, giấu kín (thế kỷ XIV: Pháp: voiler, couvrir; Anh: lớn veil, lớn cover) and revelare (với tiếp đầu ngữ re- hàm nghĩa là: phản nghĩa với) nghĩa là: bỏ mạng che mặt, cất màn; nghĩa rộng là: khánh thành; trình bày công khai minh bạch; để lộ, tiết lộ (Pháp: dévoile, découvrir; Anh: unveil, uncover). Từ hậu bán thế kỷ XIV, revelare đc dịch sang tiếng Pháp là reveler and tiếng Anh là reveal có nghĩa là: biểu lộ, tiết lộ (điều huyền bí); bắt gặp, khám phá (vật bị giấu…). Vào khoảng năm 1230, tựa đề quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh đc chuyển qua tiếng Anh là Apocalypse. Khoảng năm 1380, John Wiclif (Tin Lành) dịch tựa đề sách đó là Revelation. Thời Trung Cổ, từ này có nghĩa là “insight, vision, hallucination” (thấu thị, thị kiến, ảo giác); ngày nay có nghĩa là “A cataclysmic sự kiện” (Một cuộc hồng thủy hay câu chuyện về ngày tận thế).

Revelatio có nghĩa: (1) Hành vi vén mở, tiết lộ. (2) Các việc trước đây không đc biết đến, nay đc biết đến. (3) (Về mặt thần học): (a) Chúa để lòi ra chính mình Chúa and thánh ý Chúa cho những loài thụ tạo. (b) Tình huống truyền đạt hay tiết lộ. (c) Các việc đc truyền đạt hay tiết lộ. (d) Các gì chứa đựng việc tiết lộ này, như Thánh Kinh. (4) Khi viết hoa, là chỉ cuốn Khải Huyền của Thánh Gioan.

1.3. Hành trình đến Viễn Đông

Tại Viễn Đông, những nhà truyền giáo trong các thế kỷ đầu thường dùng các lý lẽ bỗng nhiên and các chứng cứ thực tiễn, rõ ràng and dễ hiểu để trình bày đức tin Kitô Giáo. Những ngài rất ít khi viện dẫn tới các ý niệm thuộc siêu hình học hay thần học kinh viện cao xa. vì thế, ý niệm về revelatio vắng mặt trong những tác phẩm như Phép Giảng Tám Ngày and Từ Điển Việt-Bồ-La của cha Đắc Lộ (xuất bản năm 1651) tựa như những thuật từ khải huyền, mạc khải hay mặc khải đều không xuất hiện trong các tự điển, tự vị trước năm 1896 như Dictionarium Annamitico Latinum của Đức cha P.J. Pigneaux (1772) Dictionarium Anamitico-Latinum của Đức cha Taberd (1838), Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895-1896).

Có người cho rằng thừa sai Giêrônimô Majorica, S.J. là người trước tiên đã dịch từ révélation sang chữ Nôm là khải mông trong cuốn giáo lý Công Giáo trước tiên của nước ta là “Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông” (năm 1623). Điều đó không đúng, vì cuốn này tuy là bản dịch ra chữ Nôm của cuốn Controverses của Thánh Hồng Y Robert Bellaminô soạn năm 1581-1593, nhưng tựa đề của nó là do cha Majorica tự bỏ ra and chính ngài giải nghĩa chữ khải mông là “lời nói tóm lại mọi sự Đức Chúa Giêsu truyền xưa” (x. đoạn I) còn content nằm trong thì không có ở đâu dùng thuật từ révélation cả.

Có lẽ Julien Thiriet là người trước tiên ghi nhận ý nghĩa phổ thông của từ revelatio là “sự tỏ ra, bày tỏ ra” trong cuốn Tự vị Latinh-Annam xuất bản năm 1868, tiếp theo là P.G. Vallot (năm 1898). cùng lúc ấy điểm này, Genibrel ghi nhận révélation đc dịch là mặc chiếu, mặc thị. Cha Cố Chính Linh trong bản dịch Thánh Kinh (1914-1916) cũng dịch từ này theo nghĩa phổ thông là “tỏ ra, tỏ hiện, chỉ ra, hiện đến, soi sáng”. Trong Tân Ước (bản Vulgata) chữ apocalypsis có mặt 3 lần, cha Cố Chính Linh dịch là “tỏ sự kín nhiệm” (1 Cr 14,26) and “khải huyền” (tựa sách Kh and Kh 1,1), and ngài chú thích: “Apocalysis nghĩa là bày tỏ ra sự gì kín nhiệm hay là sự gì chưa hiểu: Revelatio, khải thị, khải huyền v.v…”. Bản dịch Thánh Kinh năm 1932 của cụ Phan Khôi cũng dùng chữ tỏ ra (revelation) and sự mặc thị, mặc thị lục (apocalypsis). công ty chúng tôi chưa tìm cảm nhận chữ khải huyền trong tài liệu nào trước đó (1914) tại nước ta tựa như China.

Mọi Người Cũng Xem   đụt Là Gì - Nghĩa Của Từ đụt Trong Tiếng Việt

2. Nghĩa chữ khải

Khải có những chữ Hán: 凱 (凯), 剴 (剀), 啟 (啓, 启),塏 (垲), 豈 (岂), 愷 (恺), 楷 , 覬, 鍇 (锴), 鎧 (铠), 闓 (闿), 卡, 咳(cũng đọc là khái),磕 (cũng đọc là khái), 綮 (棨) (cũng đọc là khể), 榼 (cũng đọc là khạp), and những chữ Nôm: 凯, 凱, 剀, 剴, 启, 啓, 垲, 塏, 愷, 揩, 鎧. Trong thuật từ mạc khải, mặc khải hay khải huyền, khải là chữ啟.

Chữ khải 啓giáp cốt văn là:

Chữ này do ba chữ cấu thành : (môn : cửa), (thủ : tay), (khẩu : miệng), mang nghĩa 1 bàn tay mở cửa ra, rồi thuyết giáo.

Nghĩa gốc là ‘mở’, như Tả Truyện: “Môn khải nhi nhập: cửa mở cứ vào”. Nghĩa đc mở rộng thành ‘chỉ đường’, như Luận Ngữ: “Bất phẫn bất khải, bất phi bất phát (不憤不啟. 不悱不發): Nếu với học viên, phải chờ đến khi chúng không nghĩ ra, mới gợi ý; chờ đến khi chúng không nói ra đc mới giải thích”. Trong tiếng Hán hiện đại, mặc cũng có nghĩa là ‘trần thuật’, ‘thông báo’.Khải啟 có những nghĩa: (đt.) (1) Mở: Khải môn (mở cửa). (2) Mở mang đất đai: Đại khải Nam Dương (mở mang Nam Dương rất đông). (3) Mở trí, chỉ dạy: Khải đạo (chỉ dẫn chỉ dạy). (4) Bày tỏ, giải bầy: Khải sự (giải bầy việc làm). (5) (cũng đọc là khởi) Ban sơ: Khải lễ (lúc đầu nghi thức), khải hành (lúc đầu đi). (6) Đưa tin (cổ văn): Kính khải giả (Xin báo cáo). (dt.) (7) Tờ viết (cổ văn): Tạ khải (thư cám ơn). (8) Từ ngữ viết thư, viết sau họ tên người nhận thư: XX đài khải (kính thư XX). (9) Họ Khải. (10) Phiên âm của hành tinh venus: Khải minh tinh.

3. Nghĩa chữ mặc and mặc khải

XEM THÊM

3.1. Mặc có những chữ Hán: 默, 墨, 万, 纆, 嘿, 嚜; and những chữ Nôm: 默, 袙, 嚜, 墨. Trong thuật từ mặc khải, mặc là chữ默. Chữ mặc (默) gồm bộ khuyển (犬) and chữ hắc (黑), 黑 cũng dùng làm hình thanh, chỉ tối tăm, trong bóng tối. Nên nghĩa gốc chỉ con chó lén lút tiến công người. Tiến công ngầm thường không có tiếng động, nên chữ mặc còn tồn tại nghĩa là ‘im lặng, không lên tiếng’; nghĩa rộng là ‘âm thầm, tĩnh mịch, đen tối, trong bóng tối’ .

Mặc默, chữ Hán có nghĩa: (pht.) (1) Im (im lìm, im lặng, không nói ra, làm thinh, không lên tiếng): Mặc đảo (cầu nguyện thầm), mặc niệm (đọc thầm trong bụng), mặc toạ (ngồi im), mặc tụng (đọc không ra tiếng, lầm rầm). (2) Thầm kín (lặng lẽ, huyền bí, ngấm ngầm): Mặc cải chính trị (cải phương pháp chính trị phương pháp lặng lẽ), mặc thị (ra hiệu lén = tỏ ý một phương pháp huyền bí, signal), mặc nhận (thầm nhận = ưng thuận phương pháp ngấm ngầm). (3) Nhớ (thuộc lòng, tọa lạc lòng): Mặc ký (nhớ trong lòng), mặc tả (viết thuộc lòng), mặc thức (ghi nhớ trong lòng), mặc toán (tính rợ, tính trong bụng). (4) (dùng kết hợp): Mặc mặc (im im = dáng buồn so); u mặc (có tính vui nhộn nhẹ dịu). dt. (5) Họ Mặc.

Mặc Trong tiếng Hán hiện đại, cũng có nghĩa là trần thuật, thông báo .

Mặc默, chữ Nôm có nghĩa: Nín lặng, không thèm nói đến; để tuỳ tiện, không kể đến: mặc ai, mặc bay, mặc dầu, mặc ý, mặc lòng, mặc sức, mặc tình, mặc xác, mặc kệ = mặc đời, phó mặc.

3.2. Mặc khải (révélation), có nghĩa : (1) Tỏ lộ các điều bí ấn, khó hiểu. (2) Chỉ các sách có công tác đó.4. Từ “mặc khải”… đến “mạc khải”

5. Chữ “mạc” viết thế nào?

Rất tiếc là các bạn chưa hiểu người tạo được thuật từ mạc khải đã muốn dùng chữ mạc nào trong tiếng Hán. vì thế mà có người cho rằng chữ mạc trong mạc khải là 幕(mạc莫thêm chữ cân 巾, nghĩa là cái màn幕); người khác thì cho chữ mạc là 漠(mạc莫thêm bộ thuỷ 氵, có nghĩa là yên lặng 漠); hoặc mạc cũng là chữ mặc 默 trong mặc khải?

Trong Dictionnaire Annamite Français của J.F.M. Genibrel, xb. 1898, tr. 434 có ghi:” 默MẠC. (= Mặc), 1. Solitude, f. Silence, m. Se taire, r. 2. Mạc tưởng, Méditer, a. Mạc thổn, Considérer, a. Cung mạc tư đạo, Méditer sur ses devoirs dans un.”

Trang 442: “默 MẶC. (Lặng), Silence, m.

Xem Ngay: Tải Miễn Phí Apk – Tải trò chơi Nông Trại Cho Ios 5

Mặc thị, Révélation, f. Mặc chiếu, id. Mặc tưởng, Méditer, a. n. Réfléchir, n.”

Nếu mạc lấy chữ mạc bộ thuỷ (漠) hay chữ mặc (默)and lấy nghĩa im lặng, thì rõ nét mạc and mặc cũng nghĩa: mạc khải = mặc khải, các bạn sẽ không có gì để tranh cãi. Có điều là chỉ có mặc 墨 (chữ hắc 黑 thêm chữ thổ 土, nghĩa là mực, sắc đen) mới đọc trại là “mạc”; còn nói như Génibrel thì rất lạ, công ty chúng tôi chưa cảm nhận tài liệu nào nói như thế, phải chăng chỉ là phương pháp phát âm riêng của một địa phương nào đó ở nước ta hay chỉ là một trong các sai sót của cuốn tự điển này?Còn phiên thiết theo (1)Thuyết Văn Giải Tự說文解字là : 莫(mạc) + 北(bắc), 切(thiết) → mặc. (2) Khang Hi tự điển 康熙字典là: 密(mật) + 北(bắc), 切(thiết) → mặc. (3)Từ Hải 辭海 and Từ Nguyên 辭源là :暮 (mật) + 劾 (hặc), 切 (thiết) → mặc. Như vậy默chỉ có duy nhất một âm là mặc.

Như đa phần, công ty chúng tôi cho rằng trong thuật từ mạc khải, mạc lấy nghĩa là màn and viết là幕 (mạc phần bên dưới có chữ cân).

6. Nghĩa chữ mạc and mạc khải

6.1. Mạc có những chữ Hán: 莫, 幕 (幙), 摸, 漠, 獏, 瘼, 瞙, 羃,膜, 貘, 邈, 鏌 (镆), 鄚, 摹 (cũng đọc là mô), 模 (橅, 糢) (cũng đọc là mô), 寞 (冪, 羃, 幎, 幂) (cũng đọc là mịch), 墨 (còn đọc trại là mặc); and những chữ Nôm: 莫, 漠, 瘼, 訡, 邈. Trong thuật từ mạc khải, mạc là chữ幕, nghĩa là: (dt.) (1) Tấm màn. (2) Trướng (lều bạt): Doanh trại của tướng lãnh (Cái màn che ở phí a trên gọi là mạc. Trong quân phải giương màn lên để ở, nên, chỗ quan tướng ở gọi là mạc phủ – bộ tư lệnh quân đội. Người tham mưu bí thư ở trong quân gọi là mạc hữu; các người thư ký coi việc văn thư gọi là mạc liêu.). (3) Màn (sân khấu): Việc lúc đầu hay kết thúc (Đóng tuồng trước phải căng màn, đến lúc diễn trò mới mở, vì thế sự gì mới lúc đầu làm đều gọi là khai mạc (thuở đầu, dẫn đầu); khi hết tuồng thì kéo màn đóng lại, vì thế sự gì kết thúc cũng gọi là bế mạc (đóng màn, chấm dứt). (4) Màn (kịch): Hồi ở bản kịch: Đệ nhất mạc (Màn một). (5) (còn đọc là mạn hay mán): Mặt trái hay mặt sau của đồng tiền (Đồng tiền thời xưa, mặt phải hay mặt trước có chữ, mặt trái hay mặt sau thì trơn). (6) Có khi dùng như chữ mạc 漠, nghĩa là: Bể cát : sa mạc; yên lặng: đạm mạc (hờ hững, không hề lấy danh lợi làm động lòng đc). (đt.) (7) Bao trùm, che trùm: “Giải triều phục nhi mạc chi: cởi áo triều phục mà che lại” (Quốc Ngữ Hoạt Dụng Từ Điển) (8) (dùng kết hợp) nội mạc (chuyện thật nằm trong), mạc yến (én làm tổ trên màn: tình cảnh nguy ngập, ‘trứng treo đầu gậy’).

Mọi Người Cũng Xem   Tài Liệu Srs Là Gì

6.2. Mạc khải (révélation): tác động của Thiên Chúa biểu lộ các điều vượt tầm hiểu biết của con người. Ví dụ: Sự hiện hữu của Thiên Chúa vừa do lý trí khám phá vừa đc chính Ngài mạc khải.

6.3. Mạc khải có sai ngữ pháp? Mạc khải (幕啟) là từ ghép không xuất hiện trong tiếng Hoa, chỉ mới xuất hiện trong tiếng Việt gần 50 năm này.

Trong tiếng Hoa có các từ ghép như: thùy mạc (垂幕,dt.: thả màn, drop curtain), yết mạc (揭幕, đt.: vén màn, lớn unveil,)… Nhưng các cụm từ như: mạc khải (幕啟 kéo màn, the curtain rises), mạc lạc (幕落hạ màn, curtainfall), mạc thùy (幕垂 thả màn, the curtain dropped) là các cụm từ tự do. Trong tiếng Việt, dù những thành tố đều có gốc Hán, nhưng nếu xét theo quan hệ cú pháp tiếng Hán, ta có các từ ghép như: khai mạc, bế mạc… (thành tố chính sau – thành tố phụ trước), còn xét theo quan hệ cú pháp tiếng Việt, ta cũng có các từ ghép như: trưởng đoàn, viện hàn lâm… (thành tố chính trước – thành tố phụ sau). Nổi trội này có người gọi là “văn phạm kép” của tiếng Việt.

Theo Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thiện Giáp, từ ghép có hai đặc biệt là: (1) Hoàn chỉnh về nghĩa and (2) Tính phi cú pháp trong quan hệ của những thành tố kết cấu:

(1) Một đơn vị đc coi là có tính hoàn chỉnh về nghĩa khi nó khả năng biểu hiện một khái niệm về đối tượng người dùng tồn tại phía ngoài chuỗi khẩu ca. Từ ghép có tính hoàn chỉnh về nghĩa, còn cụm từ tự do không có nổi biệt này. Mạc khải đc coi là từ ghép có tính hoàn chỉnh về nghĩa vì trong ngẫu nhiên điều kiện nào nó cũng đã đc dùng như 1 thuật từ chuyên biệt (để chỉ tác động của Thiên Chúa biểu lộ các điều vượt tầm hiểu biết của con người) chứ không cần là cụm từ tự do.

(2) “Về mặt lịch sử, chính cú pháp là địa hạt đã ra mắt sự kết cấu của từ ghép, tức là những từ ghép đã đc kết cấu theo quy mô của cụm từ (mặc dù khả năng có ngoại lệ) nhưng do tính hoàn chỉnh về nghĩa, do đc dùng như những từ, vì thế quan hệ giữa những thành tố trong những từ ghép cũng trở nên có tính phi cú pháp”. Mạc khải là từ ghép phụ nghĩa, gồm hai thành tố cùng loại (cùng gốc chữ Hán), có quan hệ cú pháp tiếng Hán (thành tố chính đứng sau – thành tố phụ đứng trước).

Theo Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, về nguyên lý, từ ghép phụ nghĩa không hề có hiện tượng tự do về mặt trật tự; nhân tố nào phải đứng trước, nhân tố nào phải đứng sau, là một vấn đề do tập tính đôi chút (ngữ ngôn) chứ không phải do chuẩn mực chi phối (ngữ pháp).

Chính nhân tố ngữ ngôn này đã góp phần tạo được bản sắc văn hoá những dân tộc. Chẳng hạn nếu nói khải mạc là thuở đầu, thì rất đúng ngữ pháp Hán Việt and tiếng Hoa, nhưng các bạn lại không có “khải mạc” mà lại thêm thuật từ mạc khải – từ mà China không có! khả năng đề ra ở đây một vài thí dụ để cảm nhận rằng điểm đặt từ Hán Việt trong những từ ghép tiếng Việt thỉnh thoảng ngược với tiếng Hoa:

Tiếng Việt Tiếng Hoa

bản sao y 抄 本 sao bản

đầu đạn 弹 頭 đạn đầu

hồn Việt 越 魂 Việt hồn

tác động 關 連 quan liên

sắc phục 服 色 phục sắc

số mệnh 命數 mệnh số

thu hồi 回收 hồi thu

bộ ngoại giao 外交部 ngoại giao bộ

quan hệ thế gới 社會關係 thế gới quan hệ

khoa học bỗng nhiên 自然科学 bỗng nhiên khoa học

Có các điều kiện tiếng Việt có hai phương pháp nói, trong đó có phương pháp nói giống tiếng Hoa:

Tiếng Việt = Tiếng Hoa Tiếng Việt

(văn phạm Hán) (văn phạm Việt)

(danh từ chính sau) (danh từ chính trước)

– trưởng đoàn – đoàn trưởng

– ngoại giao đoàn – đoàn ngoại giao

(danh từ chung sau) (danh từ chung trước)

– hàn lâm viện – viện hàn lâm

– ngôn ngữ viện – viện ngôn ngữ

Sau đây, công ty chúng tôi thử liệt kê một vài từ ghép theo văn phạm tiếng Hán and tiếng Việt, với những thành tố chính chỉ sự vật (danh từ) kết hợp với thành tố phụ chỉ hành động (động từ) and điều kiện ngược lại (thành tố chính chỉ hành động (động từ) – thành tố phụ chỉ sự vật (danh từ)):

Văn phạm tiếng Hán

(phụ trước – chính sau)

Văn phạm tiếng Việt

(chính trước – phụ sau)

Danh từ – Động từ Động từ – Danh từ Danh từ – Động từ Động từ – Danh từ
giáo thuyết

linh ứng

ngôi hiệp

nhật tụng

sứ ngônthần hứng

mạc khải

thần khải

thiên khải

thiên phú

thiên bẩm

bản sao y

quốc phòng

pháo kích

tài trợ

bế mạc

ái quốc

phương pháp mạng

khai mạc

khai quốc

khai tâm

mục vụ

tác vụ

phụng vụ

ngôn sứ

vệ binh

tàu bay

thợ cạo

thầy giáo

lưới vét

sứ ngôn

học trò

cộng sự

đốc binh

tri huyện

vâng lời

Những nhà ngôn ngữ học nước ta đã có rất nhiều khá nhiều tài liệu nghiên giúp, phân tích and xếp loại về vấn đề từ ghép nghĩa. Việc phân loại căn cứ vào mặt từ loại, ví dụ phân loại thành kiểu cấu trúc danh + danh, kiểu cấu trúc động + động, kiểu cấu trúc danh + động vv… cũng là một hướng nghiên giúp còn đang bỏ ngõ. Như thế, công ty chúng tôi chưa cảm nhận đủ cơ sở để kết luận thuật từ mạc khải với cấu tạo danh + động là “sai ngữ pháp Hán Việt”.

7. Reviews

XEM THÊM

7.1.Mặc khài là từ ngữ chung trong văn hoá China and nước ta đã đc những dòng đời tiền bối dùng như 1 ngôn từ trong thần học. Nếu mặc khải theo nghĩa hẹp là “sự tỏ bày điều kín ẩn trong lặng lẽ”, thì từ này khả năng dùng để hiểu chữ revelation tựa như inspiration. Công Giáo China đã có lần hiểu như thế, có lẽ vì thế mà ngày nay Giáo Hội China đã thay thế từ mặc khải bằng hai thuật từ khác, đấy là khải thị (cho revelation) and mặc cảm (cho inspiration).

Tại nước ta, ngay từ các thập niên đầu thế kỷ XX, Giáo Hội nước ta đã có rất nhiều dùng thuật từ mặc khải.

7.2.Mạc khải là thuật từ của riêng and mới có sau này trong thần học Công Giáo nước ta. Ban căn chỉnh cuốn Từ Điển Đức Tin Kitô Giáo chắc phải có lý do gì đó khi xếp mục từ Révélation, rélvélé vào ngay dưới mục từ Voile (Khăn che, màn che)? – Có lẽ những tác giả muốn trước khi thăm dò Révélation, người ta cần đọc trước mục từ Voile: “tấm vải dùng để che giấu một đồ gì… Màn đền thờ… Lý do tồn tại của những bức màn đó là đồ gì là thánh and thần linh đều phải không cảm nhận đc, không bị dơ nhớp bởi các cái nhìn của loài người… Khi Đức Kitô sinh thì, thì MÀN bị xé rách hoàn toàn, hình tượng sự chấm dứt Giao Ước cũ...” để khả năng hiểu hơn về khái niệm Révélation trong Kitôgiáo? Kitô hữu nước ta khi dùng từ mạc khải khả năng sẽ liên tưởng đến BỨC MÀN đó vậy.

8. Mặc hay mạc?

Năm 1994, trong bản dịch Tân Ước của Nhóm Những Giờ Kinh Phụng Vụ (Nhóm CGKPV) xuất bản, Vị trí chú thích b) của Sách Khải Huyền, đoạn 1, câu 1 có ghi: “Do từ Hy Lạp apocalypsis, dùng từ mặc thay cho mạc. Nếu dùng mạc phải đổi lại là khải mạc mới đúng ngữ pháp Hán-Việt.

Sau đó, Sr. E. Nguyễn Thị Sang (thuộc Nhóm CGKPV) có bài viết nói rõ hơn về lý do Nhóm không dùng thuật từ mạc khải. Thời hạn gần đây đã có rất nhiều nhiều bài viết hoặc bênh hoặc bác việc dùng thuật từ này. Lý do quan trọng, nếu không nói đc là duy nhất mà công ty chúng tôi cảm nhận qua những bài chủ trương không dùng thuật từ mạc khải đó chính là: Mạc khải là thuật từ Hán Việt có cấu tạo danh từ bổ túc + động từ ngược thứ tự đôi lúc của những thuật từ Hán Việt là động từ + danh từ bổ túc. Ví dụ: khai mạc, bế mạc… Không ai nói mạc khai, mạc bế, vậy cũng đừng nên dùng kiểu nói mạc khải. Nếu dùng mạc phải đổi lại là khải mạc mới đúng ngữ pháp Hán Việt.

Kết luận.

Trong giai đoạn trưởng thành, Giáo Hội nước ta phát tài đã sớm có đc nhiều vị tiên phong tài ba and nhiệt tâm thành lập một hệ thống ngôn từ triết học and thần học bằng chữ Quốc ngữ. Trước là những cha Vũ Kim Điền (thường đc gọi là Điền Rôma), Trần Văn Hiến Minh, Bửu Dưỡng, Đỗ Minh Hồng (Papineau), Đỗ Minh Vọng (Cras)… tiếp đến những cha Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Lập… Đa phần am hiểu chữ Hán, rất tốt nghiệp ĐH ở ngoại quốc and có đủ trình độ để giảng dạy triết học and thần học. Những ngài đã cống hiến công sức sản xuất từ mới hoặc thành lập định nghĩa riêng cho hơn 5.000 mục từ trong lãnh vực triết học and thần học Kitô giáo để kịp thời Giao hàng việc làm giảng dạy, đào tạo and loan báo Phúc Âm.

Bốn cuốn: DANH TỪ THẦN HỌC VÀ TRIẾT HỌC (1952), DANH TỪ TRIẾT HỌC (1959), TỪ ĐIỂN LA-VIỆT-PHÁP (1960), TỪ ĐIỂN VÀ DANH TỪ TRIẾT HỌC (1966) đã là các tài liệu giáo khoa cơ bản cho hàng vạn học viên, sinh viên ban triết những trường trung học, ĐH and những chủng sinh trãi bao dòng đời. Đó cũng là di sản văn hoá quý báu nếu như với Giáo Hội nước ta.

Số đông trong số 5.000 mục từ đó vẫn còn đc đón nhận rộng rãi trong khi một vài đã bị lãng quên. Chắc chắn cũng chứa một vài thuật từ cần phải xem lại and thay thế cho thích hợp hơn. Việc làm đó cũng cần phải có sự đóng góp ý kiến thành lập của mọi người thiện chí, cùng lúc ấy cần phải dựa trên những học lý, học thuật nghiêm túc. Né thái độ phê phán, kích bác chỉ dựa trên cảm tính hay sở thích riêng. Tình huống hai thuật từ mặc khải and mạc khải cũng như vậy.

Nhứ thế, ta có thế kết luận rằng, nếu muốn thuật từ đc phổ thông thì dùng mặc khải, còn nếu muốn tạo được thuật từ đặc ngữ cho Giáo Hội tại nước ta thì khả năng dùng mạc khải, nhưng cần giải thích rõ ý nghĩa của chữ mạc and có tính thuyết phục.

Xem Ngay: Mcu Là Gì – Các Gì Bạn Cần Biết Về Mcu

Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ

* Bài viết phản ánh quan điểm and văn phong riêng của tác giả Stêphanô Huỳnh Trụ, linh mục quản xứ Phanxicô Xaviê, TGP Sài Gòn and là một người hâm mộ của hethongbokhoe.com. Bài viết do tác giả gửi thẳng trực tiếp cho quảng cáo truyền thông Dòng Tên nước ta.

Thể Loại: San sẻ Kiến Thức Cộng Đồng

Nguồn Blog là gì: https://hethongbokhoe.com Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người

Các câu hỏi về Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người

Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người hãy cho chúng mình biết nha, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình nâng cao hơn hơn trong các bài sau nha <3

Bài viết Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share.
Nếu thấy bài viết Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nha!!

 

Các Hình Ảnh Về Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người

Mặc Khải Là Gì - Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người

Các từ khóa tìm kiếm cho bài viết #Mặc #Khải #Là #Gì #Thiên #Chúa #Mặc #Khải #Ngài #Cách #Nào #Cho #Con #Người

Xem thêm tin tức về Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người tại WikiPedia

Bạn hãy xem thông tin chi tiết về Mặc Khải Là Gì – Thiên Chúa Mặc Khải Ngài Cách Nào Cho Con Người từ web Wikipedia.◄

Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://NaciHolidays.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://naciholidays.vn/hoi-dap/

Từ Khóa Liên Quan: mặc khải là gì, mặc khải là gì leflair, mạc khải hay mặc khải, sự mặc khải là gì, mặc khải la gì, sự mặc khải, mạc khải là gì, khải là gì, mặc khải, mặc khải nghĩa là gì, thiên chúa mặc khải cho con người bằng cách nào, sự gì thiên chúa kết hợp tiếng anh, mặc khải tư là gì, khai man là gì, 

Mọi Người Cũng Xem   Mệnh Vô Chính Diệu Là Gì

Related Posts

About The Author

Add Comment